1. Chào Mừng Bạn Đến Với Hệ Thống Diễn Đàn Trường Thịnh Group!
    + Mỗi Tin Đăng Phải Có Tiêu Đề Khác Nhau
    + Mỗi Tin Rao Vặt Phải Có Nội Dung Khác Từ 30% Trở Lên
    + Chúng tôi có quyền Xóa, Sửa Bài viết Hoặc Banned Mà Không Cần Báo Trước Với Bất Kỳ Lý do gì

KHÁI NIỆM VỀ QUYỀN XÉT XỬ CÔNG BẰNG

Thảo luận trong 'Họp Chợ Rao Vặt Linh Tinh Khác' bắt đầu bởi Viphangtot, 7/12/18 lúc 15:50.

  1. Viphangtot

    Viphangtot Member

    Tham gia ngày:
    8/3/17
    Bài viết:
    914
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    16
    Giới tính:
    Nam
    Khái niệm, đặc điểm của quyền được xét xử công bằng
    Quyền được xét xử công bằng được dịch ra từ cụm từ “right to a fair trial”. Nếu dịch sát nghĩa thì “right to a fair trial” là quyền đối với (quyền có một) phiên xử công bằng. Quyền này đầu tiên được đề cập tại các Điều 10, 11 tuyên ngôn thế giới về quyền con người của Liên Hợp Quốc, 1948 (UDHR). Tại điều 10 nêu: “Mọi người, với tư cách bình đẳng về mọi phương diện , đều có quyền được một tòa án độc lập và vô tư phân xử công bằng và công khai để xác định quyền , nghĩa vụ hoặc bất cứ một lời buộc tội nào đối với người đó”. Điều 11 nêu: “ Mọi người, nếu bi ̣quy tội hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi một toà án công khai , nơi người đó đã có được tất cả những đảm bảo cần thiết để bào chữa cho mình , chứng minh được tộ i trạng của người đó dựa trên cơ sở luật pháp . Không ai bi ̣kết tội hình sự vì một hành vi hay sự tắc trách không bi ̣ coi là một tội hình sự theo quy đi ̣ nh của luật pháp quốc gia hay quốc tế vào thời điểm đó . Cũng như không cho phép áp dụng hình thức xử phạt đối với một tội hình sự nặng hơn so với quy định của luật pháp lúc bấy giờ cho mức độ phạm tội cụ thể như vậy”

    Sau đó, quyền được xét xử công bằng được đề cập tại các điều 14 công ước về các quyền dân sự – chính trị 1966 (ICCPR) của Liên Hợp Quốc: “(1) Mọi người đều bình đẳng trước các tòa án và cơ quan tài phán. Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một tòa án có thẩm quyền, độc lập không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội người đó trong các vụ án hình sự, hoặc để xác định quyền và nghĩa vụ của người đó trong các vụ kiện dân sự. Báo chí và công chúng có thể không được tham dự một phần hay toàn thể phiên xử, vì lý do đạo đức, trật tự công cộng hoặc an ninh quốc gia trong một xã hội dân chủ, hay để bảo vệ đời sống riêng tư của các đương sự tranh tụng, hay trong những trường hợp thật cần thiết, khi toà án quyết định rằng xét xử công khai sẽ làm thiệt hại quyền lợi của công lý. Tuy nhiên mọi phán quyết trong vụ án hình sự hoặc vụ kiện dân sự phải được tuyên đọc công khai, trừ trường hợp để bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên hay quyền lợi của vụ việc liên quan đến những tranh chấp hôn nhân hoặc quyền giám hộ trẻ em; (2) Người bị cáo; buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người đó được chứng minh theo pháp luật; (3) Trong quá trình xét xử về một tội hình sự, mọi người đều có quyền được hưởng một cách đầy đủ và hoàn toàn bảo đảm những bình đẳng tối thiểu như: a) được thông báo không chậm trễ và chi tiết bằng một ngôn ngữ mà người đó hiểu về bản chất và lý do buộc tội mình, b)có đủ thời gian và điều kiện thuận lợi để chuẩn bị bào chữa và liên hệ với người bào chữa do chính mình lựa chọn; c) được xét xử mà không bị trì hoãn một cách vô lý; d) được có mặt khi xét xử và được tự bào chữa hoặc thông qua sự trợ giúp pháp lý theo sự lựa chọn của mình; được thông báo về quyền này nếu chưa có sự trợ giúp pháp lý; và được nhận sự trợ giúp pháp lý theo chỉ định trong trường hợp lợi ích của công lý đòi hỏi và không phải trả tiền cho sự trợ giúp đó nếu không có đủ điều kiện trả; e) được thẩm vấn hoặc yêu cầu thẩm vấn những nhân chứng buộc tội mình, và được mời người làm chứng gỡ tội cho mình tới phiên tòa và thẩm vấn họ tại tòa với những điều kiện tương tự như đối với những người làm chứng buộc tội mình, f) được có phiên dịch miễn phí nếu không hiểu hoặc không nói được ngôn ngữ sử dụng trong phiên tòa; g) không bị buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội; 4) tố tụng áp dụng đối với người chưa thành niên phải xem xét tới độ tuổi của họ và mục đích thúc đẩy sự phục hồi nhân cách của họ; 5)bất cứ người nào bị kết án là có tội đều có quyền yêu cầu tòa án cấp cao hơn xem xét lại bản án và hình phạt đối với mình theo quy định pháp luật; 6) khi một người bị kết án về một tội hình sự bởi một quyết định chung thẩm và sau đó bản án bị hủy bỏ, hoặc người đó được tha trên cơ sở tình tiết mới hoặc phát hiện mới cho thấy rõ ràng có sự xét xử oan, thì người đã phải chịu hình phạt theo bản án trên , theo luật có quyền yêu cầu được bồi thường, trừ trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh rằng việc sự thật không được làm sáng tỏ tại thời điểm đó hoàn toàn hoặc một phần là do lỗi của người bị kết án gây ra; không ai bị đưa ra xét xử hoặc bị trừng phạt lần thứ hai về cùng một tội phạm mà người đó đã bị kết án hoặc đã được tuyên trắng án phù hợp với pháp luật và thủ tục tố tụng hình sự của mỗi nước

    Theo định nghĩa của Tìm hiểu về quyền con người – tài liệu hướng dẫn về giáo dục về quyền con người, nhà Xuất bản tư Pháp (dịch ra từ: tài liệu của mạng lưới an ninh con người dựa trên sáng kiến của Bộ Ngoại Giao Áo) thì: Quyền được xét xử công bằng liên quan đến thi hành công lý trong lĩnh vực dân sự và hình sự. Ngay từ đầu cần phải hiểu rằng việc thi hành công lý phù hợp gồm hai khía cạnh: mang tính thể chế (chẳng hạn như sự độc lập và không thiên vị của tòa án) và mang tính thủ tục (chẳng hạn như sự công bằng trong xét xử). Nguyên tắc xét xử công bằng duy trì một loạt các quyền cá nhân đảm bảo cho việc thi hành công lý thích hợp từ lúc nghi ngờ đến khi thi hành công lý

    Xem thêm

    Công ty luật

    Văn phòng luật
     

Chia sẻ trang này